Tỉ lệ phát hiện bệnh lý tuyến giáp ở Việt Nam còn thấp
Lao động - 22/11/2020

Tiến sĩ Phan Hướng Dương – Phó Giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho biết: Bệnh lý tuyến giáp chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong dân số. Tuy nhiên, tỉ lệ phát hiện vẫn chưa cao phần lớn do các triệu chứng của bệnh khá mơ hồ, dẫn đến hậu quả là khi bệnh nhân được phát hiện đã xuất hiện các biến chứng nghiêm trọng (trên tim mạch, trên thai nhi đối với phụ nữ mang thai).

Do đó, việc tích cực tuyên truyền cho người dân để nâng cao nhận thức về bệnh; mở rộng việc tầm soát bệnh, đặc biệt là đối tượng phụ nữ và người dân khu vực vùng sâu, vùng xa là những việc làm cần thiết và cần được đẩy mạnh nhiều hơn trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, nhân lực y tế đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm các triệu chứng bệnh, tiến hành các xét nghiệm sàng lọc cho các đối tượng nguy cơ (thai kỳ, người cao tuổi) và điều trị kịp thời.

Hiện nay trên thế giới có khoảng 200 triệu người mắc bệnh tuyến giáp. Rối loạn tuyến giáp có thể ảnh hưởng mọi lứa tuổi trên cả hai giới, tuy nhiên tỉ lệ mắc bệnh ở nữ giới gấp 10 lần nam giới. Có đến 50% người mắc bệnh không được chẩn đoán do triệu chứng bệnh không đặc trưng, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác cũng như nhầm lẫn với những biểu hiện thường ngày của cuộc sống bận rộn.

Ở Việt Nam các số liệu thống kê dịch tễ về bệnh lý tuyến giáp vẫn rất hạn chế. Tuy nhiên nếu chỉ tính riêng tại Bệnh viện Nội Tiết Trung ương, các bệnh nhân mắc bệnh lý tuyến giáp đến khám và điều trị tại bệnh viện ngày càng tăng với lượt khám các bệnh lý tuyến giáp tăng hơn 6 lần chỉ trong vòng năm năm qua (2015 – 2019).

Bệnh viện Nội tiết Trung ương đồng hành cùng Quỹ The Merck Family trong suốt hai năm qua. Chương trình đã góp phần rất lớn trong việc nâng cao nhận thức về các bệnh tuyến giáp tại Việt Nam. Con số hơn 45.000 người được thăm khám thông qua chương trình thật sự là một con số đáng khích lệ. Thông qua dự án tầm soát, số lượng bệnh nhân có các rối loạn về tuyến giáp được phát hiện và điều trị khoảng hơn 3.000 trường hợp, chiếm khoảng 6,5% trong tổng số bệnh nhân.